ban-ve-gia-cong-co-khi-03

1 .Bản vẽ sơ đồ (schema):

Bản vẽ sơ đồ là bản vẽ phẳng bao gồm những ký hiệu đơn giản quy ước nhằm thể hiện nguyên lý hoạt động như sơ đồ cơ cấu nguyên lý máy, sơ đồ mạch điện động lực và điều khiển động cơ, sơ đồ giải thuật của chương trình tin học, điều khiển PLC. Thí dụ sơ đồ mạch điện như hình 1.3 :

capture

ban-ve-gia-cong-co-khi-02

ban-ve-gia-cong-co-khi-04

  Khi trình bày đến các bộ truyền, chúng tôi sẽ đưa ra sơ đồ động về đối tượng nghiên cứu. Sơ đồ động máy rất quan trọng và quyết định khả năng làm việc, kết cấu của máy sau này. Trong sơ đồ máy có thể có bảng thông báo về đặc tính động học, động lực học của hệ thống.

2.Bản vẽ tháo rời (explosive drawing):

  Trong các tài liệu kỹ thuật dành cho giải thích, quảng cáo, dùng trình bày cho những người không chuyên về kỹ thuật thường vẽ kiểu không gian ba chiều với các chi tiết đã tháo rời và đang ở đúng vị trí sẵn sàng lắp ráp.

ban-ve-gia-cong-co-khi-05

 3 .Bản vẽ lắp ráp (assembly drawing) hay bản vẽ kết cấu (Structure Drawing):

  Dựa theo sơ đồ truyền động đã trình bày ở trên, nhà kỹ thuật dùng những kiến thức chuyên môn có liên quan để tính toán sức bền chi tiết máy, kinh nghiệm công nghệ, dung sai lắp ráp, tham khảo sổ tay kỹ thuật… để tạo nên bản vẽ lắp ráp hay bản vẽ kết cấu.

Có thể nói bản vẽ lắp ráp là sự biểu hiện một cách cụ thể các bộ phận máy hay cơ cấu, dựa trên khả năng công nghệ thực tế, của bản vẽ sơ đồ. Bản vẽ lắp ráp thể hiện toàn bộ kết cấu của máy và có ý nghĩa quan trọng, có bản vẽ lắp là có thể có chiếc máy trong ý tưởng và có thể hiện thực thực sự trong tương lai. Tài liệu này tập trung vào các cách biểu diễn một bản vẽ lắp và luyện kỹ năng đọc bản vẽ lắp cho sinh viên. Có nhiều bài tập về bản vẽ lắp để sinh viên tự nghiên cứu kỹ năng lắp ráp trong điều kiện công nghệ tại nước ta.

4.  Bản vẽ chi tiết (detail drawing, part drawing):

Bản vẽ chi tiết là bản vẽ riêng từng chi tiết trích ra từ bản vẽ lắp đã trình bày ở trên với những yêu cầu riêng về công nghệ sẵn sàng đem gia công thành chi tiết thật. Bản vẽ chi tiết là mục tiêu thứ nhì sau bản vẽ lắp mà sinh viên cơ khí cần nắm bắt.

Từ chi tiết trong không gian 3 chiều (hình chiếu trục đo) người ta biểu diễn chi tiết 2 chiều như hình 1.5 như sau:

ban-ve-gia-cong-co-khi-06

Trong phạm vi tài liệu này, chúng ta tập trung vào hai loại bản vẽ chi tiết và bản vẽ lắp.

5.Tỉ lệ xích :  

  Trừ các bản vẽ sơ đồ, tách rời có mục đích giới thiệu thì không có tỉ lệ chính xác , các bản vẽ lắp ráp và chế tạo điều phải ghi tỉ lệ trong ô nhỏ ở gần góc phải bên dưới của khung tên. Tỉ lệ có thể phóng to hay thu nhỏ nhằm tận dụng triệt để diện tích tờ giấy vẽ đến 80%- 85%. Không thể chấp nhận một hình vẽ chiếm chưa tới 50% diện tích tờ giấy và như vậy nó có thể được vẽ trong giấy khổ nhỏ hơn. Họa viên cần tuân theo các tỉ lệ tiêu chuẩn nhằm bảo đảm sự cân đối của hình biểu diễn. Hình vẽ có ghi tỉ lệ xích còn giúp cho người đọc có thể đo và tính được một số kích thước nếu nó không được ghi trực tiếp trên bản vẽ (thường là trong bản vẽ lắp)  Các tỉ lệ tiêu chuẩn cho 2 loại bản vẽ như sau:

ban-ve-gia-cong-co-khi-07

Các hệ sốtỉ lệ dùng trong bản vẽ kỹ thuật

Tuy nhiên các tỉ lệ như 1:2,5, 1:4, 1:15, 1:25. 1:40, 1:75 hay 2,5:1, 4:1, 15:1, 25:1, 40:1, 75:1
được khuyên nên hạn chế dùng. Số 1 thể hiện kích thước thật và tỉ lệ là giá trị của phân số đem nhân vối kích thước thật sẽ được kích thước trên bản vẽ.

ban-ve-gia-cong-co-khi-08

Hình 1.6: Bản vẽ lắp

ban-ve-gia-cong-co-khi-09

Hình 1.7: Bản vẽ chế tạo